Trang chủ » Trường THPT Hoành Bồ » 45 NĂM MỘT CHẶNG ĐƯỜNG

NHỮNG KỶ NIỆM ĐẦU TIÊN

Thứ năm - 24/09/2015 18:31
Thầy Lã Quang Trung- cựu giáo viên hóa

Thầy Lã Quang Trung- cựu giáo viên hóa

NHỮNG KỶ NIỆM ĐẦU TIÊN
 
NHỮNG KỶ NIỆM ĐẦU TIÊN
Lã Quang Trung ( Cựu Giáo viên Hóa – THPT Hoành Bồ )
 
Giờ lên lớp đầu tiên của chúng tôi, sáu sinh viên khoa Hoá đáng lẽ là trên giảng đường Đại học nhà A4 tầng 2 với những tán cây xoè bóng mát ngó vào từng ô cửa sổ nâu hồng. Một thoáng ngõ ngàng khi tôi cầm tờ quyết định về Quảng Ninh rồi chặc lưỡi “nào cùng thử sức xem mình có thể bay được đến đâu”. Thế là với ba lô, một xe đạp mượn cùng hai bạn khoa Lớ sáng mùa thu tháng tám năm 1970 ba chúng tôi sang Hòn Gai bằng tàu thủy. Con tàu hai trăm sức ngựa chở ì ạch hơn bốn trăm hành khách lèn cứng hú lên ba tiếng rồi quay mũi rời bến. Lần đầu đi tàu thủy cả ba anh em đều rất ngỡ ngàng nhìn các con tàu đỗ ở cảng, nhìn con sông ruột lợn quanh co hẹp đến mức lá cây trên bờ có thể chạm vào khách đi tàu, nhìn bến Cát Hải đơn sơ đón khách bằng thuyền. Và kìa một ngôi nhà hai tầng đứng sừng sững trên lưng đảo báo hiệu đã vào vịnh, nước không còn màu nâu hồng nữa mà là một màu xanh trong đến mê người. Những hòn đảo trước kia chỉ nhìn trên ảnh nay hiện ra hoang sơ đẹp một cách lạ lùng, chúng tôi cứ hỏi lẫn nhau và hành khách hang Đầu Gỗ đâu? Tại sao lại là Tuần Châu, Bãi Cháy... Đáp lại đa số là những nụ cười hiền, những cái lắc đầu thân ái. Và rồi thị xã Hòn Gai đen nhẻm, tanh mùi cá đã hiện ra sau tiếng còi tàu gọi cập bến. Chúng tôi lên sau cùng vì còn mải nhìn các ngôi nhà cheo leo trên lưng núi hoặc bám sát mép nước màu xanh đen. Ngôi trường cấp 1 của người Hoa ở đầu phố Hàng Nồi ngay gần bến tàu là nơi chúng tôi ở lại 4 ngày để chờ phân công công tác. Chỉ 2 ngày là chúng tôi đã len lỏi khắp mọi nơi trong cái thị xã bé nhỏ, đầy bụi than làm quen với các từ rất lạ: Mắm tôm, Loong toòng, Cái dăm,... “Giá như được sống ở đây nhỉ” - một ước mơ le lói. Sáng ngày thứ năm, sáu chúng tôi chia tay :Tần đi trung cấp sư phạm, Tĩnh ở Hòn Gai, Hải ra cẩm phả, Chín ra Cái Bầu, Phúc đi Đầm Hà, tôi về Hoành Bồ với một cô giáo dạy Sinh vật người Hà Nội với cái tên lạ và dễ yêu: Huế. Thời ấy thanh niên nhút nhát, tôi không dám làm quen rủ cô ấy cùng về mà lặng lẽ đạp xe về Hoành Bồ, vừa đi vừa hỏi đường. Từ phà Bãi Cháy đến Cái Dăm mới có đường nhựa, còn lại toàn là đường đá, tôi vừa đạp xe vừa hát Bài ca người thợ rừng nên đi rất nhanh. Qua Việt Hưng, trên đường rẽ vào thị trấn, tôi phải một lúc mới quen được với cái tên rất lạ và không có nghĩa “Trới”. Sông Trới lúc ấy chưa có cầu, chỉ có đập tràn nước chảy tung bọt trắng xoá. Tôi vác xe đạp ngẩn ngơ đứng giữa đập, tay khoả nước không đi nổi “Quá đẹp”. Vào nộp giấy tờ ở UBND, người tôi gặp đầu tiên là anh Tựu - cán bộ phòng giáo dục (đã mất), dáng người thấp bé, giọng Nghệ ấm áp, rất niềm nở mời tôi vào phòng nghỉ đã bố trí sẵn rồi hẹn ăn cơm ở bếp ăn tập thể. Anh ra đây đã 7 năm xa vợ con nhớ lắm. Qua anh mới biết trường mới chỉ có quyết định của Ty Giáo dục chứ chưa có trường, chưa có lớp do sự quá mong mỏi của địa phương. Huyện bảo: “Có học sinh rồi, các thầy cô cứ về là có lớp, có trường, có nhà ở, có bếp ăn”. Và đúng như thế thật. Tôi và cô Huế ở uỷ ban hết tháng 9, sau đó cùng dọn về phòng tài chính cách đấy 300 mét, gần trường cấp 1 cùng với 5 thầy khác. Cô Huế ưu tiên được một phòng 6m2, một phòng thí nghiệm kiêm phòng họp hội đồng 12m2, 6 thầy ở 2 phòng 12m2, tranh tre, nứa lá, cửa phòng là 4 thanh gỗ bẹ ghép lại sơ sài. Bếp ăn tập thể do 3 thanh gỗ bẹ ghép lại, ăn đứng. Thôi, thế tạm gọi là ổn, có thể bắt đầu sự nghiệp rồi. Chỗ trường ở tạm là một quả đồi sau này xây Nhà hát của huyện, đối diện với Huyện uỷ. Trường cấp I cho mượn 2 phòng học cho 2 lớp 8, 9 với gần 60 học sinh. Tôi không thể quên buổi khai giảng đầu tiên giữa khoảng sân dốc nghiêng trên đồi trang trí giản dị và đầy đủ, những khuôn mặt rạng rỡ của học sinh, một màu đỏ của cờ, băng nổi bật giữa rừng lá xanh. Bác Báo, bác Cư phó chủ tịch huyện phát biểu, giọng rưng rưng nhắc lại quyết tâm của huyện: đưa cấp 3 về miền núi, tin tưởng vào sự nhiệt tình của các thầy cô trong giảng dạy và giáo dục con em các dân tộc. Thầy hiệu trưởng Nguyễn Khuê Bích nguyên là Bí thư Đoàn trường cấp 3 Quảng Yên có đôi mắt sáng, da nâu, chân đi chữ bát, dạy toán, mái tóc chẻ ngôi giữa rất dứt khoát, giọng nhỏ nhẹ và chắc chắn, phát biểu đáp lại giản dị và ngắn gọn thay mặt anh chị em giáo viên hứa sẽ làm đúng làm tốt mọi việc. Rồi đại diện của học sinh phát biểu, kết thúc là tiếng hát của các em. Một không khí chân tình, chan hoà, sôi nổi ngay từ buổi đầu tiên của năm học mà ai cũng biết sẽ có nhiều khó khăn, gian khổ mọi bề, đã hứa hẹn một kết quả mùa vàng tốt đẹp. Trường chưa đủ giáo viên nên tôi phải dạy Hoá, Kỹ thuật nông nghiệp, Sử, Thể dục và chủ nhiệm một lớp 8. Hết tháng 9 mới có thầy cô khác về thay và tôi chỉ còn giảng dạy Kỹ thuật nông nghiệp trong 8 năm liền. Để dạy được môn này, ngoài việc nghiên cứu sách giáo khoa, tôi đã đi dự tất cả các buổi họp có liên quan đến nông nghiệp, xuống xã tìm hiểu các loại giống lúa, cách cày, cấy ngửa tay, làm bèo hoa dâu, tập lái xe công nông. Trường thiếu nhiều dụng cụ hoá chất nên tôi thường xuyên phải xuống các trường cấp 2 trong huyện để xin hoá chất về biểu diễn cho học sinh trong giờ dạy, hướng dẫn học sinh làm các thí nghiệm thực hành. Tỉểu phẩm “Gánh xiếc gà trống vàng” do các học sinh yêu hoá học đã biểu diễn rất thành công cuối học kỳ I. Giờ lên lớp đầu tiên của tôi, cứ nghĩ các em sẽ rụt rè như các học sinh miền núi khác, nhưng ngược lại, các em rất tự nhiên, học trò chỉ kém thầy 1 đến 2 tuổi, to cao, có 2 em người Sắn Dìu, người Hoa nói tiếng Kinh rất thạo, có lẽ vì thế, chỉ qua 10 phút đầu, cả thầy trò đã hoà làm một, rất vui. Các em học kém lắm, vì vậy tôi phải dạy rất kỹ, chia nhỏ bài sửa từng lỗi nhỏ, tối lại đến thăm nhà học sinh, vừa hướng dẫn các em học, làm quen với phụ huynh, tìm hiểu phong tục, tập quán nơi đây có gì lạ phải học hết. Sau giờ học, các em rủ thầy lên rừng, lấy củi, gây quỹ lớp. Tôi rất háo hức nhận lời và ngay lập tức biến thành trò dưới sự hướng dẫn của các em. Trước tiên, lấy dây chun buộc 2 gọng kính lại cho khỏi rơi, đi giày ba ta, mặc quần đi rừng, khăn mặc vắt vai, mũ vải mềm, bi đông nước, dao quắm... Qua sông Trới, cách cổng bệnh viện 2 cây rồi leo núi qua con đường mòn đến mỏ đá dầu Đồng Ho bỏ hoang, cả thầy trò đều rất khoái khi trông thấy nhưng viên đá có thể cháy được. Thích nhất lúc nghỉ mệt ngồi ăn me rừng, uống nước suối, thấm đượm vị ngọt cứ lan toả dần trên đầu lưỡi, chân thì khoả nước suối mát rượi, nhớ câu:
“Rừng xa vọng tiếng chim gù
                                   Ngân nga tiếng suối vi vu gió ngàn”
của nhà thơ Viễn Phương. Là giáo viên mới ra trường ,chưa quen dạy, chúng tôi rất hay đi dự giờ toán của thầy Bích, chữ rất đẹp, phong cách đĩnh đạc, cách đặt và dẫn dắt vấn đề rất thông minh và hấp dẫn. Chúng tôi như mê đi, như xem một bộ phim khoa giáo xuất sắc. Sau 45 năm, tôi vẫn còn nhớ như in bài hàm số mũ của thầy “Dạy mà như chơi”. Nói theo kiểu bây giờ, thầy Bích thật sự như một thần tượng, tất cả những ai đã tiếp xúc, đã nghe thầy nói chuyện, xử lí các tình huống sư phạm đều trở thành phan hâm mộ. Cho đến nay khi đã ngót nghét 70 tuổi, tôi vẫn như một cậu học trò, cách vài tháng lại về thăm thầy, trao đổi, khoe với thầy những việc đã làm và cả những ước mơ vươn tới. Trên đường về, tôi thấy mình như được tiếp thêm năng lượng, như bay trên phố với chiếc Vespa cổ thân thiết để rồi ngày mai lại vào công việc với một nhiệt tình mới. Ngoài giờ của thầy Bích, khi về Hải Phòng, tôi hay đến trường Thái Phiên, nơi tôi học cũ. Xin dự giờ các thầy cô tổ Hoá. Tất cả đều ngạc nhiên, sửng sốt rồi mở lòng dắt tôi vào dự giờ, một điều rất hiếm xảy ra với các giáo viên thành phố. Biết bao nhiêu kinh nghiệm giảng dạy, kỹ thuật sư phạm đã được các thầy cô chỉ bảo. Cô Hương - tổ trưởng tổ Hoá Thái Phiên còn đề nghị cùng làm  đề tài “Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa theo phương pháp nghiên cứu”. Có thể nào quên được các thầy cô, anh chị đi trước đã chắp cánh nâng niu cho tôi trong những năm đầu tiên ấy từ trái tim tôi đã bật ra câu:
                                      “Thầy già truyền sức sống xuân
                                      Cho trò trẻ lại hiến dâng tim mình”
          Hồi đó, Chi đoàn giáo viên trường cấp 3 với các Chi đoàn cơ quan quanh huyện thân lắm, chúng tôi thường xuyên trao đổi, thăm hỏi lẫn nhau kinh nghiệm làm công tác đoàn. Đội văn nghệ xung kích Hoành Bồ được thành lập từ năm 1967 nhưng hoạt động yếu ớt. Tôi và đồng chí Quý đã tham gia xây dựng các tiết mục và luyện tập vào 2 ngày trong tuần. Chỉ sau 1 tháng, chương trình biểu diễn lúc bấy giờ được coi là đồ sộ đã ra mắt gồm đủ cả: đơn ca, nam nữ, song ca, tốp ca nam, nữ, hợp ca, đọc thơ, chèo cổ... đã xuất hiện trên sân khấu của huyện. Từ nơi đây, chúng tôi toả đi khắp nơi để phục vụ các hội nghị, các bản làng xa xôi, các đơn vị bộ đội, các đoàn địa chất trên núi, và cả những chú bò trên thảo nguyên. Năm 1975, đội ngừng hoạt động, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử của mình. Vừa qua năm 2014, Huyện đoàn đã đứng ra tổ chức cuộc gặp mặt sau hơn 47 năm thành lập của các anh em đội viên. Những ngấn lệ, những nụ cười rạng rỡ, những cái ôm xiết chặt nhìn nhau không nói nên lời. Bác Cư - người Đảng viên già năm xưa vẫn rất hồn hậu nắm chặt tay tôi: “Còn ca hát, còn sáng tác không?”.
          Lớp 8 tôi chủ nhiệm có 27 em, sau còn lại 23, có nhiều đặc biệt. Lớp trưởng - em Lưu Ngọc Đỗ (là liệt sĩ) cao 1m65, da hơi ngăm, mắt nâu, hai răng cửa khá to, rất khoẻ đã dẫn tôi về thăm gia đình em sau 2 buổi đi học. Có 8 cô gái xinh xắn: Giang, Thanh, Hồng, Ngọ, Bách, Tuyết, Hạnh, Oanh. Cô Hồng học gỉỏi nhất đã thành Tiến sĩ hoá học theo nghiệp thầy, dạy trường Đại học Lâm nghiệp thành phố Hồ Chí Minh. Cô Ngọ trắng trẻo cao ráo rất hăng hái phát biểu đã trở thành cô giáo dạy Toán ngay dưới mái trường năm xưa. Lớp có 2 chàng trai sinh đôi bé như cái kẹo: Hà Thế Hùng, Hà Thế Dũng, da ngăm, rất nghịch học khá. Tôi còn giữ tấm ảnh chụp cả ba thầy trờ dưới gốc thông trên sân trường, cậu Lưu Quang Long thông minh, trắng trẻo, đẹp như Phan An tái thế, yêu rất sớm, có cầu Vương A Sầu, người Hoa, lúc nào cũng tràn đầy mặc cảm, thầy cứ phải động viên. Và các bạn của tôi những người đã gắn bó từ thuở ban đầu sơ khai ấy, giữa chúng ta có biết bao kỷ niệm mà những dòng chữ sau đây chỉ tạo nên vài nét chấm phá. Thầy Xán cao tuổi nhất với chiếc măng tô san ka-ki xanh rất hiếm bấy giờ, dáng đi trịnh trọng rất hài hước và yêu đời, người nổi tiếng khắp huyện với mối tình sét đánh lúc 52 tuổi. Cô Huế nhà ở phố Hàng Trống,  giọng chuẩn Hà Nội, dáng đi nhẹ nhàng. Không ai có thể  hình dung cô gái chân yếu tay mềm ấy bắt rắn, ếch, giun giữa cánh đồng hoặc mảnh vườn sau nhà, về mổ, dạy thực hành cho học sinh. Ngay năm đầu tiên ấy, cô là giáo viên duy nhất của trường được Ty Giáo dục khen thưởng và học sinh rất yêu mến. Thầy Quý tóc rễ tre, mặt lúc nào cũng đỏ, rất giống một lão nông, lúc mới về đi đôi dép cao su, gót vẹt đến mức có thể cạo râu được, không ai có thể nghĩ lại là một tay độc tấu ghi-ta có hạng, kẻ vẽ, trang trí, cắt chữ rất đẹp. Tôi đã nhiều đêm ngồi trong bóng tối để tận hưởng cho hết những âm thanh thánh thót của bài Palôma, Sông Đa-nuýp xanh, Xe chỉ luồn kim,... vang lên dưới những ngón tay kỳ diệu của thầy. Phong trào đoàn thanh niên của trường của huyện hơn 20 năm đã gắn bó với tên tuổi của thầy Qúy. Thầy Lập, dáng thư sinh, cao gầy, người Hà Nội, trước công tác ở Ty Giáo dục, khi thành lập trường, thầy về dạy Vật lý. Thầy rất mê khoa học, kiến thức khá rộng, Đông tây kim cổ, thỉnh thoảng lại hét to giữa trời. Thầy Linh, người Quảng Trị, dạy Văn có kiến thức sâu rộng, cách nói rất diễn cảm, nhiều lúc đi qua lớp, tôi phải đứng lại lắng nghe giọng nói lôi cuốn, đánh thức từng con chữ, khơi dậy nguồn cảm hứng trong mỗi tâm hồn học sinh.
          Nhắm mắt lại, các kỷ niệm cứ trôi qua như một cuốn phim. Những kỷ niệm đầu tiên ấy là niềm tự hào nhỏ bé, mình đã sống xứng đáng với thời thanh niên sôi nổi, nó còn là nguồn động lực sâu xa thúc đẩy tôi bước tiếp trên con đường dạy học và sáng tạo. Nhiều người hỏi: “Tại sao đến nay anh vẫn giữ được niềm say mê làm việc, tác phong linh hoạt, tươi trẻ và đặc biệt hát vẫn hay và tình cảm”. Câu trả lời là “Có lẽ, khi ra trường, t ôi đã được may mắn công tác tại Hoành Bồ”.
 

Tác giả bài viết: Lã Quang Trung ( Cựu Giáo viên Hóa – THPT Hoành Bồ )

Nguồn tin: Cựu giáo viên

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: kỷ niệm

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Văn bản mới

Số: Số 10a-KH/ĐB
Tên: (KẾ HOẠCH Triển khai, thực hiện Bộ Quy tắc ứng xử “Tự tin là công dân Hoành Bồ”)

Ngày BH: (25/06/2018)

Số: Số: 35/KH-THPT HB
Tên: (KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN TRƯỜNG THPT HOÀNH BỒ GIAI ĐOẠN 2013 – 2018, TẦM NHÌN 2020)

Ngày BH: (31/07/2013)

Số: Số: 16 /KH- THPTHB
Tên: (KẾ HOẠCH CÔNG TÁC PHÒNG – CHỐNG THIÊN TAI Nămhọc 2017 - 2018)

Ngày BH: (11/07/2017)

Số: Số: 30 /BC-THPTHB
Tên: (BÁO CÁO KẾT QUẢ TRIỂN KHAI KẾ HOẠCH THỰC HIỆN ĐỢT CAO ĐIỂM TẤN CÔNG VÀ TRẤN ÁP TỘI PHẠM)

Ngày BH: (10/09/2017)

Số: Số: 29 /KH-THPTHB
Tên: (KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN ĐỢT CAO ĐIỂM TẤN CÔNG VÀ TRẤN ÁP TỘI PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN)

Ngày BH: (25/08/2017)

Số: Số: 40/KH-THPT HB
Tên: (KẾ HOẠCH NHIỆM VỤ NĂM HỌC 2017 – 2018)

Ngày BH: (05/09/2017)

Số: Số: 125 /QĐ-THPTHB
Tên: (QUYẾT ĐỊNH Về việc khen thưởng học sinh đạt giải cuộc thi tìm hiểu “Trường THPT Hoành Bồ - 47 năm xây dựng và phát triển”)

Ngày BH: (06/09/2017)

Số: Số: 36 - KH/THPT HB
Tên: (KẾ HOẠCH TỔ CHỨC CUỘC THI “TRƯỜNG THPT HOÀNH BỒ 47 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN” (1970 – 2017))

Ngày BH: (20/08/2017)

Số: Số: 19 /KH-THPT HB
Tên: (KẾ HOẠCH Bồi dưỡng chính trị hè cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và sinh hoạt chính trị đầu năm học của học sinh Năm học 2017 - 2018)

Ngày BH: (31/07/2017)

Số: Số: 1681 /KH-SGD&ĐT
Tên: (KẾ HOẠCH Tổ chức bồi dưỡng chính trị hè năm 2017cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trong hệ thống giáo dục quốc dân và sinh hoạt chính trị đầu năm học của học sinh, sinh viên)

Ngày BH: (03/07/2017)

XEM NHIỀU NHẤT

d
G

D
D
1
ca
dq
da
fá
da
3