Trang chủ » Trường THPT Hoành Bồ » TIN HOẠT ĐỘNG CÔNG ĐOÀN

Hồ Chí Minh -Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và nhà văn hóa kiệt xuất

Thứ năm - 23/06/2016 16:41
Hồ Chí Minh -Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và nhà văn hóa kiệt xuất

Hồ Chí Minh -Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và nhà văn hóa kiệt xuất

Hồ Chí Minh -Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và nhà văn hóa kiệt xuất
          Chủ Tịch HCM – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta  người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp CM và giải phóng dân tộc, là  tấm gương sáng ngời về đạo đức và nhân cách để chúng ta học tập và noi theo.
          Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời thơ ấu có tên là Nguyễn Sinh Cung , sinh ngày 19-5-1890, tại quê ngoại làng Hoàng Trù xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong một gia đình nhà nho yêu nước
          Cha của Người là Nguyễn Sinh Sắc (Nguyễn Sinh Huy), sinh năm 1862, mất năm 1929, quê ở làng Kim Liên (thường gọi là làng Sen) cùng thuộc xã Chung Cự, nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông Nguyễn Sinh Sắc xuất thân từ gia đình nông dân, mồ côi cha mẹ sớm, từ nhỏ đã chịu khó làm việc và ham học. Vì vậy, ông được nhà Nho Hoàng Xuân Đường ở làng Hoàng Trù xin họ Nguyễn Sinh đem về nuôi. Là người ham học và thông minh, lại được nhà Nho Hoàng Xuân Đường hết lòng chăm sóc, dạy dỗ, ông thi đỗ Phó bảng và sống bằng nghề dạy học. Đối với các con, ông Sắc giáo dục ý thức lao động và học tập để hiểu đạo lý làm người. Khi còn trẻ, như nhiều người có chí đương thời, ông dùi mài kinh sử, quyết chí đi thi. Nhưng càng học, càng hiểu đời, ông nhận thấy: “Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn”. Do đó, sau khi đỗ Phó bảng, được trao một chức quan nhỏ, nhưng vốn có tinh thần yêu nước, khẳng khái, ông thường chống đối lại bọn quan trên và thực dân Pháp. Vì vậy, sau một thời gian làm quan, ông bị chúng cách chức và thải hồi. Ông vào Nam Bộ làm thầy thuốc, sống cuộc đời thanh bạch cho đến lúc qua đời.
          Mẹ của Người là bà Hoàng Thị Loan, sinh năm 1868, mất năm 1901. Bà là một phụ nữ cần mẫn, đảm đang, đôn hậu, sống bằng nghề làm ruộng và dệt vải, hết lòng thương yêu và chăm lo cho chồng con.  Sau khi sinh bé Xin, bà Loan đau ốm liên miên. Căn bệnh hiểm nghèo đã làm tim bà ngừng đập đột ngột. Bà Hoàng Thị Loan từ giã cõi đời lúc vừa bước sang tuổi 33.
              Chị của Bác là Nguyễn Thị Thanh, còn có tên là Nguyễn Thị Bạch Liên (1884- 1954). Bác có 1 người anh tên là Nguyễn Sinh Khiêm, còn có tên là Nguyễn Tất Đạt, sinh năm 1888, mất năm 1950.  Người Em của Người là bé Xin, sinh năm 1900 đã sớm qua đời ngay sau khi mẹ của Bác mất.
          Từ lúc ra đời đến tuổi lên 5, Nguyễn Sinh Cung sống ở quê nhà trong sự chăm sóc đầy tình thương yêu của ông bà ngoại và cha mẹ, lớn lên trong truyền thống tốt đẹp của quê hương, hiếu học, cần cù trong lao động, tình nghĩa trong cuộc sống và bất khuất trước kẻ thù.
          Khi khi ông Nguyễn Sinh Sắc vào Kinh thi hội, Nguyễn Sinh Cung cùng với gia đình chuyển vào Huế lần thứ nhất, ở nhờ nhà một người quen ở trong thành Nội . Đó là những năm tháng gia đình cụ Sắc sống trong cảnh gieo neo, thiếu thốn. Bà Hoàng Thị Loan làm nghề dệt vải, còn ông Nguyễn Sinh Sắc ngoài thời gian học, phải đi chép chữ thuê để kiếm sống, để học và dự thi. Năm 1898, ông Nguyễn Sinh Sắc dự thi hội lần thứ hai, nhưng vẫn không đỗ. Cuộc sống gia đình càng thêm chật vật khó khăn.
          Năm Nguyễn Sinh Cung 11 tuổi, bi kịch đến với gia đình. Trong thời gian cha đi xa, mẹ đã qua đời khi hạ sinh ngừi con thứ 3. Trong căn nhà nhỏ, sau cổng Đông Ba thuộc khu thành Nội Huế, Nguyễn Sinh Cung phải bồng bế, nuôi nấng em và đón tết  Tân Sửu trong nỗi đau buồn vô hạn vì mất mẹ, vắng cha, vắng anh, vắng chị. Chẳng bao lâu sau, bé Xin quá yếu cũng theo mẹ.
          Hơn 5 năm sống ở kinh thành Huế, Nguyễn Sinh Cung thấy được nhiều điều mới lạ. So với quê hương xứ Nghệ, Huế có nhiều nhà cửa to đẹp, nhiều cung điện uy nghiêm. Nguyễn Sinh Cung cũng thấy ở Huế có nhiều lớp người, những người Pháp thống trị nghênh ngang, hách dịch và tàn ác; những ông quan Nam triều bệ vệ trong những chiếc áo gấm, hài nhung, mũ cánh chuồn, nhưng khúm núm rụt rè; còn phần đông người lao động thì chịu chung số phận đau khổ và tủi nhục. Đó là những người nông dân rách rưới mà người Pháp gọi là bọn nhà quê, những phu khuân vác, những người cu ly kéo xe tay, những trẻ em nghèo khổ, lang thang trên đường phố… Những hình ảnh đó đã in sâu vào ký ức của cậu bé Nguyễn Sinh Cung.
          Tất cả những nỗi đau mà Người đã tận mắt chứng kiến đã nêu trên là cơ sở, nguồn gốc hình thành nên nhân cách Hồ Chí Minh sau này, đó là lòng yêu thương con người.
          Chúng ta tiếp tục câu chuyện về cuộc đời của Bác.
          Được tin vợ qua đời cụ Sắc vội trở lại Huế  đưa các con về quê. Tại quê nhà, Nguyễn Sinh Cung được ông ngoại đặt tên mới là Nguyễn Tất Thành và gửi học đến học chữ hán với các thầy giáo là những người yêu nước. Tại quê nhà, Nguyễn Tất Thành được nghe nhiều chuyện qua các buổi bàn luận thời cuộc giữa các thầy với các sĩ phu yêu nước. Người thanh niên Nguyễn Tất Thành dần dần hiểu được thời cuộc và sự day dứt của các bậc cha chú trước cảnh nước mất, nhà tan. Và càng thấm thía thân phạn cùng khổ của người dân mất nước.
          Năm 1906, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế lần thứ hai và học ở trường tiểu học Pháp- Việt Đông Ba.
          Tháng 9-1907, Người vào học  trường Quốc học Huế nhưng bị buộc thôi học vào cuối tháng 5-1908 vì tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ. Trong thời gian học tại Trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc nhiều với sách báo Pháp. Chính nhờ ảnh hưởng của các thầy giáo yêu nước và sách báo tiến bộ mà Người được tiếp xúc, ý muốn đi sang phương Tây tìm hiểu tình hình các nước và học hỏi những thành tựu của văn minh nhân loại từng bước lớn dần trong tâm trí của Nguyễn Tất Thành. Cùng thời gian đó, Nguyễn Tất Thành còn được nghe kể về những hành động của những ông vua yêu nước như Thành Thái, Duy Tân.                                                                                 
           Đầu năm 1910, khi tròn 20 tuổi Nguyễn Tất Thành vào Phan Thiết. Người dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ cho học sinh lớp ba và tư tại trường Dục Thanh.
          Những năm đầu thế kỉ XX, phong trào đấu tranh chống TDP nổ ra mạnh mẽ, những tất cả các phong trào yêu nước đó cuối cùng đều thất bại. Nước nhà vẫn chìm trong nô lệ. Đau xót trước cảnh nước mất nhà tan, xuất phát từ lòng yêu nước nồng nàn, tình yêu thương con người bao la, nhất là đối với những người dân lao động nghèo khổ, vững tin ở tuổi 20, người thanh niên Nguyễn Tất Thành quyết chí ra đi tìm đường cứu nước.
          Ngày 5/ 6/1911, từ Bến Nhà Rồng, Người lấy tên Văn Ba, lên đường sang Pháp với nghề phụ bếp trên chiếc tàu buôn của đô đốc Ta -tút -trơ Tre- vi- la. với mong muốn học hỏi những tinh hoa và tiến bộ của các nước phương Tây.  Phút quyết định từ bến NHà Rồng, vác lên vai sứ mệnh thợ thuyền với tên gọi Anh Ba, hòa vào đời thợ, sống trong đời thợ mà vẫn nổi bật lên một phong độ hiền tài.
          Bác đã đi khắp 5 châu 4 bể, đi qua 40 nước, Bác làm tất cả các công việc từ phụ bếp, quét tuyết, làm thợ ảnh, đi bán báo. Bác làm nhiều nghề cực khổ như vậy chỉ với 1 mục đích là xem các nước làm thế nào có được độc lập, tự do để về cứu giúp đồng bào. Chuyện kể rằng Bác nhận quét tuyết cho 1 trường học ở nước Anh, trời rét âm 40 độ, mỗi buổi sáng quét tuyết bàn tay của Bác rớm máu. Trời rét quá không có lò sưởi, Bác nung 1 viên gạch hồng vào bếp để đến đêm dùng cho ấm. Nhà thơ CLV đã từng xúc động mà viết rằng:
Có nhớ chăng, hỡi gió rét thành Ba Lê? 
Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá 
Và, sương mù thành Luân Đôn, ngươi có nhớ 
Giọt mồ hôi Người, nhỏ giữa đêm khuya?

          Càng đi nhiều nước trên thế giới, Bác càng nhận thấy và đau xót trước cảnh người dân thuộc địa bị hành hạ, kinh biệt, bị áp bức. CNĐQ là nguồn gốc của mọi sự tàn bạo ấy. Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc phải tiêu diệt CNĐQ và nhân dân các thuộc địa, những người yêu chuộng hòa bình cần phải đoàn kết lại. Đây chính là nguồn gốc hình thành phẩm chất đạo đức, tinh thần quốc tế trong sáng, cao cả của CT HCM.
          Năm 1917, CMT10 Nga thành công làm rung chuyển cả thế giới đã đưa người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đến với Luận cương chính trị về vấn đề thuộc địa của Lê – nin. Bác nhận thấy rằng đây chính là con đường cứu nước cứu dân – con đường CM vô sản.
          Tại Pháp, Bác gia nhập Đảng Xã hội Pháp và hoạt động trong phong trào công nhân Pháp. Thay mặt cho những người yêu nước ở Pháp với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Bác gửi đến Hội Nghị Véc – xây Pháp bản yêu sách của nhân dân VN đòi chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do và bình đẳng của người VN. Người xuất bản báo Người cùng khổ, viết Bản án chế độ thục dân Pháp phơi bày chính sách bóc lột dã man của CNTD.
          Cuối 1924, Người về Quảng Châu – TQ tiếp tục hoạt động cách mạng. Người ra báo Thanh niên, mở lớp đào tạo hàng trăm cán bộ đưa về nước hoạt động cách mạng. Do hoạt động cứu nước, Bác bị địch lùng sục bắt bớ, tù đày.
           Năm 1931, Bác với tên goi là Tống Văn Sơ bị bắt ở TQ, nhưng nhờ sự biện hộ của luật sư Frank-Loseby, Bác đã được thả cuối năm 1932. Người đi Thượng Hải rồi bí mật quay trở lại Liên  Xô. Từ Liên Xô người lại trở về TQ, hoạt động ở biên giới VN.
          Sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài, vào môt ngày năm 1941, với hành lý là một chiếc vali nhỏ đan bằng mây tre để đựng quần áo và một chiếc máy chữ xách tay CT HCM trở về nước.  Nhà thơ Tố Hữu đã viết về sự kiện này qua bốn câu thơ: "Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!/Nhớ thương hòn đất ấm hơi Người/Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ/Mà đến bây giờ mới tới nơi".
          Bằng thiên tài trí tuệ và sự khảo sát thực tiễn cách mạng thế giới Người mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đồng thời cũng mở ra con đường giải phóng cho tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới.
          Có thể tự hào mà nói rằng "Mỗi bước đi của nhân dân ta và của Đảng ta trong những  năm qua đều gắn liền với cuộc đấu tranh cách mạng vô cùng sôi nổi và đẹp đẽ của Hồ Chủ tịch. Toàn bộ hoạt động của Người cùng với sự nghiệp của nhân dân ta và của Đảng ta là một thiên anh hùng ca bất diệt của cách mạng Việt Nam" .
          Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của một người cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình cho Tổ quốc, cho nhân dân, vì lý tưởng cộng sản, vì độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức, vì hòa bình và công lý trên thế giới. Năm 1987, tại kỳ họp lần thứ 24, Tổ chức Giáo dục - Văn hóa - Khoa học của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã ra Nghị quyết tôn vinh Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và nhà văn hóa kiệt xuất” .
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Mai Huyên

Nguồn tin: CÔNG ĐOÀN

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Văn bản mới

Số: Số 10a-KH/ĐB
Tên: (KẾ HOẠCH Triển khai, thực hiện Bộ Quy tắc ứng xử “Tự tin là công dân Hoành Bồ”)

Ngày BH: (25/06/2018)

Số: Số: 35/KH-THPT HB
Tên: (KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN TRƯỜNG THPT HOÀNH BỒ GIAI ĐOẠN 2013 – 2018, TẦM NHÌN 2020)

Ngày BH: (31/07/2013)

Số: Số: 16 /KH- THPTHB
Tên: (KẾ HOẠCH CÔNG TÁC PHÒNG – CHỐNG THIÊN TAI Nămhọc 2017 - 2018)

Ngày BH: (11/07/2017)

Số: Số: 30 /BC-THPTHB
Tên: (BÁO CÁO KẾT QUẢ TRIỂN KHAI KẾ HOẠCH THỰC HIỆN ĐỢT CAO ĐIỂM TẤN CÔNG VÀ TRẤN ÁP TỘI PHẠM)

Ngày BH: (10/09/2017)

Số: Số: 29 /KH-THPTHB
Tên: (KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN ĐỢT CAO ĐIỂM TẤN CÔNG VÀ TRẤN ÁP TỘI PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN)

Ngày BH: (25/08/2017)

Số: Số: 40/KH-THPT HB
Tên: (KẾ HOẠCH NHIỆM VỤ NĂM HỌC 2017 – 2018)

Ngày BH: (05/09/2017)

Số: Số: 125 /QĐ-THPTHB
Tên: (QUYẾT ĐỊNH Về việc khen thưởng học sinh đạt giải cuộc thi tìm hiểu “Trường THPT Hoành Bồ - 47 năm xây dựng và phát triển”)

Ngày BH: (06/09/2017)

Số: Số: 36 - KH/THPT HB
Tên: (KẾ HOẠCH TỔ CHỨC CUỘC THI “TRƯỜNG THPT HOÀNH BỒ 47 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN” (1970 – 2017))

Ngày BH: (20/08/2017)

Số: Số: 19 /KH-THPT HB
Tên: (KẾ HOẠCH Bồi dưỡng chính trị hè cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và sinh hoạt chính trị đầu năm học của học sinh Năm học 2017 - 2018)

Ngày BH: (31/07/2017)

Số: Số: 1681 /KH-SGD&ĐT
Tên: (KẾ HOẠCH Tổ chức bồi dưỡng chính trị hè năm 2017cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trong hệ thống giáo dục quốc dân và sinh hoạt chính trị đầu năm học của học sinh, sinh viên)

Ngày BH: (03/07/2017)

XEM NHIỀU NHẤT

d
G

D
D
1
ca
dq
da
fá
da
3